FSMA có tác động như thế nào đối với xuất khẩu sản phẩm từ Việt Nam sang Mỹ?

“Cảnh báo Nhập khẩu” của Cục Quản trị Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) đặc biệt ngành thực phẩm xuất khẩu sang Mỹ có xu hướng gia tăng trong thời gian tới. Làm thế nào để đánh giá tác động của Đạo luật Hiện đại hóa An toàn Thực phẩm của Mỹ (FSMA) đối với xuất khẩu thực phẩm của VN ở để có kế hoạch đối phó phù hợp cho tương lai? Chuyến công tác trong tháng 3 tại Mỹ của Hội Hàng VN Chất lượng cao & Phòng TM Mỹ với FDA và các cơ quan chức năng của Mỹ thuộc chương trình FSMA đã gợi ý một vài ý tưởng khởi đầu cho các chương trình  tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện thuận lợi thương mại hướng xuất khẩu trong thời gian tới…

Cảnh báo Nhập khẩu – câu chuyện của AI?

Dấu hiệu cảnh báo nhập khẩu (NK) sau khi ban hành đạo luật FSMA thực tế bắt đầu từ những năm 2012 khi báo chí đăng tin một số chuyến hàng xuất khẩu (XK) Thanh Long Bình Thuận vào Mỹ bị FDA giữ lại tại cảng để kiểm tra dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV) thậm chí có lúc cơ quan chức năng Mỹ nâng tần suất kiểm tra, lấy mẫu thanh long Việt Nam lên 100% mặc dù sản phẩm đã được cấp phép XK và trải qua công đoạn chiếu xạ để kiểm tra an toàn dịch bệnh. Điều này tạo ra tâm lý lo lắng cho các DN XK trái cây vào Mỹ thậm chí có DN phải tạm dừng XK vì không rõ quy định mới vể ATTP của Mỹ. Tiếp đến câu chuyện 95 container (trên 1.700 tấn) gạo của VN bị trả về vào khoảng đầu năm 2016 do các chỉ số dư lượng TBVTV vươt quá quy định của FDA. Thông tin Mỹ từ chối NK hàng hóa từ VN ngày càng nhiều hơn do thực phẩm (TP) không đạt tiêu chuẩn ATTP, do vi phạm quy định nhãn và các quy định NK mới từ Mỹ đang là lời cảnh báo liên tục đối với các doanh nghiệp XK TP của VN.Nếu dành ít thời gian truy xuất vào website của FDA, bạn dễ dàng tìm được danh sách các DN VN bị “Cảnh báo Nhập khẩu” với tên cả nhà cung ứng VN và đối tác NK tương ứng: https://www.accessdata.fda.gov/cms_ia/country_VN.html

Điều khác lạ là nhiều cảnh báo công khai như thế trên mạng vẫn chưa được nhiều DN XK lớn phản hồi chính thức từ những năm 2000 để tháo gỡ & khắc phục tình trạng thậm chí một số DN còn muốn “dấu diếm” tên tuổi của mình vì những trục trặc NK như vậy? Cũng chưa thấy thông tin rõ ràng cơ quan nào của nhà nước đứng ra chịu trách nhiệm hỗ trợ, nghiên cứu, đánh giá mức độ ảnh hưởng và hướng dẫn cách tháo gỡ khó khăn này cũng như lên chiến lược và sách lược để ứng phó thương mại phù hợp “Trade Compliance” với những rào cản kỹ thuật mới ngày càng phổ biến hơn của các quốc gia phát triển như Mỹ, Canada, Châu Â, Australia… chứ không chỉ dừng lại ở việc thỏa thuận và ký kết các Hiệp định Thương mại Quốc tế. Hơn thế nữa, đây không chỉ là câu chuyện của các DN XK mà là vấn đề vướng mắc lớn ngành thương mại hướng XK của cả nước, của chính phủ kể cả các cơ quan quản lý chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi và xúc tiến thương mại (XTTM) cho DN VN trong xu thế hội nhập quốc tế. Nếu tiếp tục lơ là và không có biện pháp giải quyết rốt ráo, có thể thấy trước quy mô và hiệu quả XK của VN sẽ bị ảnh hưởng lớn trong thời gian sắp tới, đặc biệt đối với các ngành thực phẩm, trái cây, thủy hải sản, sản phẩm sơ chế và chế biến…

FSMA ra đời trong bối cảnh như thế nào?

Đạo luật FSMA được ban hành ngày 04/01/2011, trong bối cảnh người tiêu dùng (NTD) Mỹ có ưa chuộng thực phẩm (TP) ăn kiêng và TP tươi hơn nhưng thị trường lại rất quan ngại về chất lượng TP NK gây ra nhiều bệnh và tử vong cho người Mỹ do TP bị nhiễm và chứa nhiều mầm bệnh. Do thiếu hụt về sản xuất, hàng tiêu dùng NK đang gia tăng nhanh (trung bình 8%/năm) so với NK hàng xá (chỉ tăng 2%) cũng như NK các sản phẩm trung gian khác.  Mỗi năm Mỹ nhập khẩu TP từ các quốc gia đang phát triển chiếm tỷ lệ hơn 54% nhu cầu TP nhập khẩu. Hơn nữa, hàng năm nhu cầu nhập khẩu TP tiêu dùng cho thị trường lớn và hấp dẫn bậc nhất thế giới với hơn 320 triệu dân Mỹ chiếm tỷ trọng lên đến 15%, trong đó 75% thủy hải sản và 60% sản phẩm tươi  khác như trái cây, rau quả…Xu hướng tiêu dùng TP tươi hứa hẹn cơ hội XK lớn và lâu dài cho các sản phẩm tươi từ các quốc gia phát triển, có thể cung cấp thực phẩm tươi và chế biến trong đó có VN như trái cây nhiệt đới, nông sản, hải sản nuôi trồng, thực phẩm chế biến…Tuy nhiên, các loại thực phẩm có độ rủi ro cao như trên chứa nhiều yếu tố có thể tạo mầm bệnh do dễ bị nhiễm, chứa chất độc trong tự nhiên, dư lượng thuốc trừ sâu và các loại nhiễm khác từ môi trường trong suốt quá trình sản xuất, vận chuyển, kinh doanh và tiêu thụ. Lo lắng về an toàn thực phẩm (ATTP) gây bệnh từ phía NTD đặt ra nhiều thách thức cho thương mại quốc tế, cho chính phủ các nước trong đó có FDA với mục tiêu bảo vệ sức khỏe NTD. 

Như vậy, chính sự thay đổi hành vi và phương thức tiêu dùng, sự bùng phát của bệnh tật từ TP cùng với sự phát triển của khoa học TP kể cả tiêu chuẩn và phương thức kiểm định TP đã phát sinh rủi ro mới dẫn đến việc nâng cấp và chuyển đổi hệ thống ATTP mà nhiều quốc gia tiên tiến của Canada, Úc, Châu Âu đang tiếp tục phát triển cùng với FSMA của Mỹ.  FSMA được xem như một cuộc “đại tu mới” trong suốt 70 năm về luật lệ liên quan đến kiểm tra, giám sát và phòng ngừa về ATTP được ban hành từ 2011 và có hiệu lực áp dụng đầy đủ vào tháng 6/2016. Các quốc gia phát triển càng ngày giám sát & kiểm tra chặt chẽ hơn về vấn đề ATTP và hàng NK. Cơ hội XK đi kèm với thách thức gia tăng khi chính phủ các quốc gia này liên tục tạo ra hàng rào kỹ thuật về chất lượng và kết quả đương nhiên là tác động lớn đến hiệu quả XK của các nước, trong đó có VN.

Hệ thống ATTP mới theo FSMA tiếp cận việc giải quyết vấn đề ATTP thông qua phòng ngừa mọi rủi ro liên quan đến ATTP trong suốt quá trình sản xuất, cung cấp nguyên liệu, chế biến, dán nhãn, đóng gói, vận chuyển và đưa ra sản phẩm ra thị trường chứ không thuần túy kiểm tra chất lượng sản phẩm NK vào Mỹ như trước đây. Luật mới tạo áp lực trước tiên lên các nhà bán lẻ (NBL) với tư cách là người đưa hàng hóa đến tay NTD, rồi đến nhà phân phối và nhà NK sau cùng trách nhiệm được chuyển về nhà sản xuất, chế biến, đóng gói (gọi chung là nhà cung ứng). FSMA tập trung cải thiện ATTP bằng việc chia nhỏ trách nhiệm giám sát và kiểm tra từ nông trại đến bàn ăn để phòng ngừa các mới nguy hại đến sức khỏe người tiêu dùng, trong đó đối tượng nhà sản xuất hay chế biến chịu tác động lớn nhất. Các nhà NK có trách nhiệm bảo đảm rằng các nhà cung ứng quốc tế áp dụng đầy đủ các hệ thống và biện pháp kiểm soát phòng ngừa theo định hướng yêu cầu thực phẩm NK từ nước ngoài phải an toàn như thực phẩm trong nước.

Tác động của FSMA & Ứng phó của Doanh nghiệp Xuất khẩu?

Điều ngầm hiểu của luật FSMA là tiêu chuẩn ATTP Mỹ giờ đây áp dụng tương đương nhau cho cả hàng hóa nội địa và hàng NK. Nghĩa là nhà cung ứng VN muốn XK vào Mỹ phải chọ sự quản lý và giám sát chất lượng như nhà cung ứng tại Mỹ.  Cho dù là người trồng trọt, sản xuất, chế biến, đóng gói hay vận chuyển liên quan đến TP, họ đều cầu phải đầu tư hệ thống sẳn sàng để xác định & quản lý các nguồn gốc rủi ro trong quy trình hoạt động thông qua bằng chứng dữ liệu ghi nhận và chứng nhận của bên thứ ba. Cách tiếp cận mới của FSMA rõ ràng tạo ra thách thức lớn cho cả nhà cung ứng VN và cả nhà NK. Trước mắt đòi hỏi các nhà sản xuất, chế biến phải đầu tư lớn để xây dựng và quản lý chuỗi cung ứng định hướng sản xuất TP an toàn cho NTD ngay từ cơ sở trong nước, sau đó đăng ký kế hoạch ATTP dưới sự giám sát & kiểm tra phòng ngừa rủi ro từ FDA, các cơ quan chức năng khác của Mỹ, từ các tổ chức giám sát bên thứ ba, từ chính các nhà NK quốc tế phù hợp theo hệ thống HACCP. Nhà NK phải cung cấp kế hoạch kiểm tra nhà cung ứng dựa vào phòng ngừa rủi ro, đảm bảo sản phẩm và cơ sở sản xuất quốc tế phù hợp theo tiêu chuẩn ATTP Mỹ để được cấp chứng nhận NK từ chính phủ liên quan hay bên thứ ba được FDA ủy thác kiểm tra.

Theo quy định mới, TP muốn NK vào Mỹ phải đăng ký mã số kinh doanh mới, nhà cung ứng phải lựa chọn nhà đại diện NK tại Mỹ. Nhà NK có nhiệm vụ tiến hành rà soát thường xuyên trạng thái tuân thủ của nhà cung ứng trước khi NK thông qua các công cụ như Thư cảnh báo FDA (Warning Letter) khi một chuyến hàng vi phạm, Cảnh báo NK của FDA (Import Alert) khi vi phạm liên tục nhiều chuyến hàng, yêu cầu chứng nhận NK, xây dựng và đánh giá kế hoạch ATTP (FSVP) và giữ liên lạc thường xuyên với FDA… DN nào muốn bán hàng cho các NBL Mỹ như hệ thống siêu thị ở Mỹ còn đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao hơn khi cần tiếp cận sớm với phương pháp phân tích chuỗi giá trị (VCA) được các siêu thị Mỹ sử dụng phổ biến khi làm việc với nhà cung ứng. VCA giúp DN hiểu rõ xem liệu DN mình có đáp ứng được yêu cầu ATTP của Mỹ từ nhiều góc độ tiêu chuẩn ATTP, quy định dán nhãn & bán lẻ cho NTD. Do chưa quen với VCA hiện đại cũng như hệ thống sản xuất VN với quy mô nhỏ và mang tính phân mảng, thách thức này cũng cản trở các DN đến gần và hợp tác thành công với các siêu thị lớn. Cuộc khảo sát “bỏ túi” của đòan chúng tôi tại các siêu thị Mỹ trong tháng 3 vừa qua cho thấy chỉ có 5 loại sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc từ VN được bày bán trong siêu thị Mỹ, trong đó có nước mắm mang thương hiệu Red Boat, tương ớt Sriracha (Việt Kiều Mỹ), một sản phẩm Pho VN từ một người nước ngoài sống tại Thailand, còn lại chủ yếu là sản phẩm nhãn hàng riêng của NBL hay cung ứng khác với nguyên liệu từ VN (như quế), tôm đông lạnh…

Luật FSMA có tác động trực tiếp đến việc tăng giá bán sản phẩm và làm giảm bớt lựa chọn đa dạng về sản phẩm cho NTD, đồng thời tăng tính tập trung cho DN lớn và làm giảm cạnh tranh do hạn chế nhiều nhà cung ứng có quy mô vừa & nhỏ tham gia thị trường. Trước mắt, DN khối tư nhân sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất nhất do yêu cầu đầu tư đổi mới hệ thống toàn diện. Mặt khác, việc đáp ứng tiêu chuẩn của FSMA chắc chắn mang đến lợi thế cạnh tranh và tạo khác biệt cho sản phẩm XK. Tuy nhiên, với phương thức XK phổ biến mang tính “ngẫu nhiên” và “tình cờ” dựa vào quan hệ với một số bạn bè như trước đây cộng với nguồn lực hạn chế để sẳn sàng cho chiến lược XK dài hạn, đây quả thật là bài toán khó giải cho các DN vừa & nhỏ đang và có ý định XK sang Mỹ nếu không được hỗ trợ kịp thời. Trước mắt đối diện với với tiêu chuẩn ATTP mới, nhà cung ứng VN sẽ có 3 cách tiếp cận. Cách 1, tạm lùi lại hiện khá phổ biến với nhiều DN VN khi bỏ qua thị trường “khó tính” như Mỹ để tìm kiếm các thị trường XK có tiêu chuẩn chất lượng thấp hơn như Trung Quốc hay các nước Châu Á. Cách 2, rút khỏi thị trường XK để quay lại phục vụ thị trường trong nước và thoát khỏi thị trường có thu nhập cao và hấp dẫn như Mỹ. DN lớn hơn có thể theo đuổi tiếp tục thị trường Mỹ và chấp nhận đầu tư nâng nâng cấp hệ thống, cơ sở sản xuất, chế biến để đáp ứng yêu cầu mới. Về lâu dài, hiệu quả chiến lược XK của VN sẽ phụ thuộc nhiều vào nguồn lực và cam kết đầu tư của các DN này cùng với sự hỗ trợ quan trọng từ phía chính phủ nhằm chủ động ngăn chặn sự sụt giảm đáng kể về XK do phát sinh vấn đề hàng rào kỹ thuật liên quan đến chất lượng như thế.

Nghiên cứu cách giải cứu Doanh nghiệp Xuất khẩu?

Trong điều kiện chưa có một nghiên cứu chính thức nào của VN về tác động của FSMA đến tình hình và hiệu quả XK của các DN đối với thị trường Mỹ, việc nghiên cứu các Cảnh báo Nhập khẩu trực tiếp từ trang web của FDA để đánh giá thực trạng, rút bài học kinh nghiệm và tìm cách tháo gỡ khó khăn cho các DN XK. Trước tiên, việc khảo sát sơ bộ cho thấy xu hướng XK từ các quốc gia đang phát triển đặc biệt có thu nhập thấp – trung bình bao gồm VN ngày càng bị vướng mắc nhiều hơn với 2 lý do vi phạm phổ biến nhất là sản phẩm không đạt tiêu chuẩn và vi phạm quy định về nhãn. Việc NK bị từ chối không có nghĩa là thực sự sản phẩm không đạt tiêu chuẩn chất lượng và an toàn nhưng nhiều trường hợp do DN cung cấp thiếu thông tin (vì bản thân họ thiếu thông tin), thiết kế nhãn sai quy định thậm chí dịch sai… Việc nghiên cứu lý do cụ thể cũng giúp điều chỉnh lỗi truyền thông, cải thiệt hình ảnh về chất lượng sản phẩm XK từ VN trong điều kiện cộng đồng thế giới và trong nước còn thiếu thông tin rõ ràng & minh bạch.

Việc nghiên cứu cảnh báo nhập khẩu hiện được phân loại theo quốc gia, theo ngành chủng loại sản phẩm, theo thời gian giúp dễ dàng tìm kiếm và nghiên cứu cụ thể lý do từ chối NK và cách trả lời phù hợp cho từng trường hợp cụ thể cũng như ước tính số trường hợp hay DN và cả doanh số XK “bị từ chối”.  So sánh dữ liệu cảnh báo nhập khẩu với số liệu NK hàng hóa vào Mỹ và tính toán tỷ lệ từ chối NK sẽ giúp đánh giá được mức độ ảnh hưởng như thế nào đối với các DN XK VN trong việc đáp ứng yêu cầu ATTP mới từ khi áp dụng đạo luật FSMA này. Kế tiếp tìm hiểu và chia sẻ nội dung từ chối trong các diễn đàn XK sẽ mang đến nhiều bài học kinh nghiệm thực tế từ đó dự báo tương lai và ban hành các chính sách khắc phục và hỗ trợ DN kịp thời và hiệu quả hơn.

Hơn hết, cộng đồng XK cùng với chính phủ cần hợp sức truyền thông, chia sẻ thông tin, bài học kinh nghiệm, bàn cách tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy XK, xây dựng các chương trình đào tạo chuyên sâu về hệ thống chất lượng nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu chất lượng đổi mới khi hội nhập quốc tế.

Tuan Tran
USIS Consulting